Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng tám và tám tháng năm 2018

Thứ ba - 28/08/2018 22:25

    1. Sản xuất nông nghiệp, thủy sản
    Trồng trọt

    Trong thời gian qua, nông dân các địa phương trong tỉnh đã tập trung kết thúc gieo cấy lúa mùa; chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đối với lúa, rau màu cũng như các loại cây ăn quả (cam, quýt, nhãn) đang trong quá trình phát triển quả và cho thu hoạch.
    Theo báo cáo tổng hợp từ các huyện, thành phố, diện tích gieo trồng lúa mùa năm nay khoảng 33.000 ha (bằng 94,38% so với vụ mùa năm 2017) trong đó, gieo thẳng đạt 4.780 ha. Hiện nay lúa đang thời kỳ đẻ nhánh, nông dân các địa phương đã tích cực bón thúc kịp thời, kết hợp làm cỏ, điều tiết nước hợp lý và chủ động theo dõi phát hiện và phòng trừ sâu bệnh.
    Theo báo cáo tiến độ đến ngày 20/7 các địa phương đã hoàn thành chăm sóc lúa đợt 1, đến ngày 26/7 hoàn thành chăm sóc lúa đợt 2. Thời điểm này trên đồng ruộng đang xuất hiện một số loại sâu bệnh hại lúa như: bệnh khô vằn (diện tích nhiễm 868 ha); sâu cuốn lá nhỏ (diện tích nhiễm 3.056 ha); rầy nâu, rầy lưng trắng (diện tích nhiễm 361 ha);... Cơ quan chuyên môn khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng ruộng, nắm bắt tình hình các đối tượng dịch hại cây trồng để có các biện pháp phòng trừ kịp thời, đạt hiệu quả ở những nơi có mật độ, tỷ lệ sâu bệnh cao.
    Bên cạnh việc chăm sóc lúa và rau màu, các địa phương đã chú trọng đến chăm sóc các loại cây ăn quả. Thời điểm này, cây nhãn đang trong giai đoạn cho thu hoạch và được đánh giá là một năm được mùa, theo đánh giá thì sản lượng có khả năng đạt 41.500 tấn (tăng 35% so với năm 2017).
    Chăn nuôi gia súc, gia cầm
    Tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh cơ bản thuận lợi, không có dịch bệnh xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm. Công tác tiêm phòng, phòng ngừa dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được thực hiện tốt. Hiện nay, giá bán thịt lợn hơi tiếp tục tăng trở lại so với năm trước, trung bình từ 52.000-56.000 đồng/kg, so với cùng thời điểm năm trước thì giá thịt lợn hơi đã tăng gấp đôi, tạo tâm lý cho các cơ sở chăn nuôi yên tâm sản xuất và phát triển đàn trong thời gian tới. Đối với đàn gia cầm vẫn tiếp tục ổn định và phát triển, nhiều mô hình chăn nuôi gà, vịt được nhân rộng.
    Qua tổng hợp kết quả điều tra chăn nuôi 01/7, đàn lợn 540.075 con, tăng 5,95%; đàn gia cầm 8.293 nghìn con, tăng 2%, trong đó đàn gà 5.823 nghìn con tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước.
    2. Sản xuất công nghiệp
    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 10,51% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Công nghiệp khai thác giảm 23,29%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,04%; sản xuất và phân phối điện tăng 18,05%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,19%. Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 6,51%; quần áo các loại tăng 9,99%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 11,29%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 18,55%; bao bì bằng chất dẻo các loại tăng 8,91%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 18,82%; sắt thép các loại tăng 5,69%; dây điện đơn dạng cuộn tăng 9,87%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa tăng 6,75%; điện thương phẩm tăng 18,97%; ... Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm 2017 như: Cát đen giảm 21,04%; thức ăn gia súc, gia cầm giảm 4,67%; sợi tơ (filament) tổng hợp giảm 0,38%.
    Tính chung tám tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,86% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng (cát) giảm 24,33%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,72%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,95%. Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 8,18%; thức ăn cho gia súc, gia cầm tăng 9,98%; quần áo các loại tăng 12,59%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 13,41%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 13,49%; bao bì bằng chất dẻo các loại tăng 11,75%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 14%; sắt thép các loại tăng 8,75%; mạch điện tử tích hợp tăng 8,14%; sợi quang và các bó sợi quang, cáp sợi quang tăng 6,85%; dây điện đơn dạng cuộn tăng 10,05%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa tăng 12,31%; điện thương phẩm tăng 14,22%;...
    3. Hoạt động đầu tư
    a. Vốn đầu tư ngân sách nhà nước địa phương

    Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Tám đạt 186.060 triệu đồng, tăng 14,23% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 77.930 triệu đồng, tăng 2,09%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 53.890 triệu đồng, tăng 32,56%; vốn ngân sách cấp xã 54.240 triệu đồng, tăng 18,19%.
Tính chung tám tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 1.300.039 triệu đồng, tăng 13,52% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 605.115 triệu đồng, tăng 3,15%; vốn ngân sách cấp huyện 366.108 triệu đồng, tăng 25,42%; vốn ngân sách cấp xã 328.816 triệu đồng, tăng 23,34%.
    b. Đầu tư nước ngoài
    Tính đến 20/8/2018, trên địa bàn tỉnh đã có 412 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 4.242.591 nghìn USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 20 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 115.271 nghìn USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Nhật Bản có 152 dự án, số vốn đăng ký là 2.790.465 nghìn USD, chiếm 65,77% tổng vốn đăng ký; Hàn Quốc có 121 dự án, với số vốn đăng ký là 640.416 nghìn USD, chiếm 15,09% tổng vốn đăng ký; Trung Quốc có 82 dự án, số vốn đăng ký 437.488 nghìn USD, chiếm 10,31% tổng số vốn đăng ký.
    4. Hoạt động tài chính, tiền tệ
    a. Thu ngân sách nhà nước

    Thu ngân sách tháng Tám ước đạt 1.015.003 triệu đồng, tăng 5,17% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Thu nội địa 705.003 triệu đồng, tăng 33,29%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 310.000 triệu đồng, giảm 8,27%. Một số khoản thu nội địa trong tháng dự tính như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 25.664 triệu đồng, tăng 64,18%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 96.480 triệu đồng, tăng 53,35%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 248.994 triệu đồng, tăng 27,64%; thu lệ phí trước bạ 23.897 triệu đồng, tăng 20,01%; thuế thu nhập cá nhân 49.346 triệu đồng, tăng 12,62%; thuế bảo vệ môi trường 21.519 triệu đồng, giảm 42,03%; thu phí và lệ phí 4.099 triệu đồng, giảm 39,17%; các khoản thu về nhà đất 217.921 triệu đồng, tăng 58,41%.
    Tính chung tám tháng đầu năm 2018, thu ngân sách nhà nước ước đạt 7.467.884 triệu đồng, tăng 5,17% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Thu nội địa 5.430.000 triệu đồng, tăng 11,02%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.037.884 triệu đồng, giảm 7,79%. Một số khoản thu nội địa như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 135.000 triệu đồng, giảm 15,12%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.115.000 triệu đồng, tăng 28,67%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.750.000 triệu đồng, giảm 14,09%; thu lệ phí trước bạ 187.000 triệu đồng, tăng 12,22%; thuế thu nhập cá nhân 510.000 triệu đồng, tăng 13,14%; các khoản thu về nhà đất 1.322.000 triệu đồng, tăng 47,87%.
    b. Chi ngân sách nhà nước
    Tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 17/8/2018, chi ngân sách nhà nước địa phương đạt 5.325.288 triệu đồng, đạt 60,03% kế hoạch năm. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.727.940 triệu đồng, đạt 65,12% kế hoạch; chi thường xuyên 3.507.348 triệu đồng, đạt 57,8% kế hoạch. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: Chi sự nghiệp kinh tế 331.614 triệu đồng; chi giáo dục, đào tạo 1.284.195 triệu đồng; chi sự nghiệp y tế 354.019 triệu đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 71.999 triệu đồng; chi đảm bảo xã hội 278.159 triệu đồng; chi quản lý hành chính 835.004 triệu đồng; chi khác 328.773 triệu đồng.
    c. Hoạt động ngân hàng
   Tính đến 31/7/2018, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng đạt 71.381.884 triệu đồng, tăng 10,65% so với thời điểm 31/12/2017. Trong đó: Nguồn vốn huy động trong dân cư và các tổ chức kinh tế đạt 61.465.551 triệu đồng, tăng 9,73% và chiếm 86,11% tổng nguồn vốn. Tổng dư nợ đối với nền kinh tế đạt 53.637.423 triệu đồng, tăng 7,31% so với thời điểm 31/12/2017. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 36.734.746 triệu đồng, tăng 7,46%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 16.902.677 triệu đồng, tăng 6,99%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 50.459.436 triệu đồng, tăng 5,79%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 3.177.987 triệu đồng, tăng 39,02%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu (nhóm 3,4,5) là 1.231.884 triệu đồng (chiếm 2,3% tổng dư nợ), tăng 69,83% so với thời điểm 31/12/2017.
   5. Thương mại, dịch vụ
   Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ trong tháng Tám ước đạt 2.585.154 triệu đồng, tăng 10,78% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 2.084.538 triệu đồng, tăng 10,45%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 137.536 triệu đồng, tăng 8,09%; doanh thu du lịch 580 triệu đồng, tăng 16,98%; doanh thu dịch vụ khác 362.500 triệu đồng, tăng 13,82%. Tính chung tám tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính 20.182.270 triệu đồng, tăng 10,96% so với cùng kỳ năm 2017.
   Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa tám tháng đầu năm ước đạt 16.296.589 triệu đồng, chiếm 80,75% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 11,01% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 13,79%; hàng may mặc tăng 10,15%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 15,75%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 33,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 9,9%; ô tô các loại giảm 73,24%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 3,87%; xăng, dầu các loại tăng 11,55%; đá quý, kim loại quý tăng 31,49%...
   Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành tám tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 1.090.961 triệu đồng, chiếm 5,41% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 7,94% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 44.786 triệu đồng, tăng 7,14%; dịch vụ ăn uống 1.041.675 triệu đồng, tăng 7,93%; dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch 4.500 triệu đồng, tăng 18,55%.
   Doanh thu dịch vụ khác tám tháng đầu năm 2018 ước đạt 2.794.720 triệu đồng, chiếm 13,85% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 11,88% so với cùng kỳ năm 2017.
   6. Giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ
   a. Chỉ số giá tiêu dùng

   Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám tăng 0,39% so với tháng trước. Trong đó: Có 4/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước, bao gồm: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,05%; may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,01%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%; giao thông tăng 0,06%. Có 4/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá ổn định so với tháng trước, bao gồm: nhóm thuốc và dịch vụ y tế; bưu chính viễn thông; giáo dục và văn hóa, giải trí và du lịch. Có 3/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước, bao gồm: nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,01%.
   So với tháng 12/2017, Chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám năm nay tăng 2,56%. Trong đó: Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 6,2%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,06%; may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,05%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,0%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; thuốc và dịch vụ y tế giảm 6,22%; dịch vụ giao thông tăng 6,37%; bưu chính, viễn thông giảm 0,75%; văn hóa, thể thao, giải trí tăng 2,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,33%; riêng dịch vụ giáo dục ổn định so với tháng 12/2017.
   So với tháng cùng kỳ năm 2017, Chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám năm nay tăng 4,72%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,41%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,11%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,84%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,59%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 8,09%; dịch vụ giao thông tăng 10,47%; dịch vụ bưu chính, viễn thông giảm 0,75%; giáo dục tăng 3,53%; văn hóa, thể thao, giải trí tăng 2,75%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,92%.
   Bình quân chung tám tháng đầu năm 2018, Chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,06% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,40%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,65%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 1,41%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,52%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 27,96%; dịch vụ giao thông tăng 8,65%; bưu chính, viễn thông giảm 0,76%; dịch vụ giáo dục tăng 3,68%; dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí tăng 2,37%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,88%.
   b. Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
   Chỉ số giá vàng tháng Tám giảm 2,05% so với tháng trước và ở mức giá bình quân 3.487.000 đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 1,25% so với tháng trước, mức giá bình quân 23.349 đồng/USD.
   7. Hoạt động vận tải và bưu chính, viễn thông
   a. Vận tải hành khách

   Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 1.196 nghìn lượt người vận chuyển và 67.874 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 7,78% về lượt người vận chuyển và tăng 9,60% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 52.013 triệu đồng, tăng 11,52%. Tính chung tám tháng đầu năm 2018, vận tải hành khách ước đạt 9.311 nghìn lượt người vận chuyển và 555.585 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,87% về lượt người vận chuyển và tăng 9,72% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 415.935 triệu đồng, tăng 11,52%.
   b. Vận tải hàng hóa
   Vận tải hàng hoá tháng Tám ước đạt 2.613 nghìn tấn vận chuyển và 92.166 nghìn tấn luân chuyển, tăng 12,76% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 8,44% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 204.260 triệu đồng, tăng 11,13%. Tính chung tám tháng đầu năm 2018, vận tải hàng hóa ước đạt 19.236 nghìn tấn vận chuyển và 686.116 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 11,53% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 10,47% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.534.389 triệu đồng, tăng 11,30%.
   c. Bưu chính, viễn thông
   Số thuê bao điện thoại phát triển mới trong tháng Tám ước tính tăng 400 thuê bao, trong đó thuê bao cố định giảm 2.000 thuê bao; thuê bao di động trả sau tăng 2.400 thuê bao. Tổng số thuê bao điện thoại đến cuối kỳ ước đạt 124.232 thuê bao, trong đó thuê bao cố định 12.087 thuê bao, thuê bao di động trả sau 112.145 thuê bao. Số thuê bao internet trong tháng ước tăng 650 thuê bao, nâng tổng số thuê bao internet hiện có ước đạt 137.155 thuê bao.
   8. Một số hoạt động văn hóa, xã hội
   a. Hoạt động văn hóa, thể thao
   Toàn tỉnh tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền nhân dịp kỷ niệm 73 năm Cách mạng tháng Tám (19/8/1945-19/8/2018) và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2018). Ngày 07/8, tại Trung tâm văn hoá huyện Mỹ Hào đã diễn ra Liên hoan Giai điệu tuổi hồng và thiếu nhi kể chuyện tỉnh Hưng Yên hè năm 2018. Tham dự Liên hoan có trên 300 em thiếu nhi đến từ 10 huyện, thành phố trong tỉnh với 50 tiết mục ca múa nhạc, kể chuyện và tuyên truyền giới thiệu sách.
   Tối ngày 11/8, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (thành phố Hưng Yên) đã diễn ra lễ khai mạc Lễ hội nhãn lồng Hưng Yên năm 2018. Lễ hội là một trong những hoạt động tuyên truyền, quảng bá nhãn lồng Hưng Yên đến các tỉnh, thành phố trong nước và quốc tế nhằm thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm nhãn Hưng Yên.
   Hoạt động thể thao: Chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên tham dự các giải thể thao quốc gia và tham dự Đại hội thể dục thể thao toàn quốc lần thứ VIII năm 2018. Trong tháng Bẩy, tỉnh Hưng Yên đã tham gia 3 giải thể thao quốc gia, đạt 8 huy chương các loại, trong đó: 2 HCV, 2HCB, 4 HCĐ. Từ ngày 27/7 - 1/8, Đội bóng đá U11 Hưng Yên tham gia thi đấu vòng chung kết Giải Bóng đá Nhi đồng toàn quốc năm 2018 tổ chức tại tỉnh Thái Bình, kết quả đạt giải nhì. Đây là thành tích tốt nhất của Bóng đá Nhi đồng Hưng Yên từ khi tái lập tỉnh. Từ ngày 3/8 - 4/8, tại Nhà tập luyện TDTT tỉnh, Ban tổ chức Đại hội TDTT tỉnh đã tổ chức Giải Karate năm 2018. Tham dự giải có gần 170 vận động viên đến từ 7 huyện, thành phố. Giải vô địch bóng bàn thiếu niên, nhi đồng toàn quốc năm 2018 tổ chức tại Đà Nẵng, đoàn Hưng Yên có 11 vận động viên tham gia, giành được 3 huy chương các loại, trong đó: 1 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ.
   b. Hoạt động Y tế
   Công tác giám sát dịch được thực hiện thường xuyên, trên địa bàn tỉnh không có dịch xảy ra. Tổng số bệnh nhân mắc hội chứng cúm là 1.136 ca, không có trường hợp nào liên quan đến gia cầm ốm chết. Không có trường hợp nào nặng phải điều trị tuyến trên. Số bệnh nhân mắc thuỷ đậu 19 ca, bệnh tay-chân-miệng 7 ca, sốt xuất huyết 2 ca. Các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm như: Tả, Viêm Não NBB,... không phát hiện trường hợp nào. Một số bệnh truyền nhiễm gây dịch khác xuất hiện lẻ tẻ tại các huyện. Phân phối đầy đủ và kịp thời vắc xin tiêm chủng mở rộng, vật tư theo kế hoạch cho y tế cơ sở triển khai tiêm chủng cho các cháu vào ngày 25-29/7/2018. Trong và sau tiêm chủng không có tai biến xảy ra. Số phụ nữ có thai được khám trên 3 lần trước khi đẻ đạt 98%, tỷ lệ đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 100%.
   Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính đến ngày 31/7/2018, luỹ kế số người nhiễm HIV/AIDS là 1.665 người, trong đó: Số người nhiễm HIV/AIDS hiện còn sống 839 người; số bệnh nhân tử vong do AIDS 826 người.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tiếp tục triển khai đoàn kiểm ATTP đối với cơ sở sản xuất, kinh doanh nước uống đóng bình, đóng chai, nước đá dùng liền và bếp ăn tập thể trường học trên địa bàn huyện Mỹ Hào, Yên Mỹ. Kết quả như sau: số cơ sở được kiểm tra 10 cơ sở; số cơ sở đạt điều kiện ATTP 09; số cơ sở vi phạm 01; số cơ sở vi phạm bị phạt tiền 01; số tiền phạt 1,50 triệu đồng. Trong tháng Bẩy, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.
   c. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
   Từ ngày 16/7/2018 đến ngày 15/8/2018, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy và 1 vụ nổ. Cụ thể:
   Vụ cháy: vụ cháy xảy ra vào tối ngày 25/7 tại Công ty Nhựa Bắc Á và Chợ Gạo (thành phố Hưng Yên). Đối với Công ty Nhựa Bắc Á bị cháy 550 m2 nhà kho, thiêu rụi 70 tấn thành phẩm túi nilon, 66 tấn nguyên liệu, 2 máy sản xuất, 1 xe nâng hàng. Khu Chợ Gạo, vụ cháy đã thiêu rụi 116 ki ốt bán quần áo, giày dép rộng 2.000 m2, địa điểm 95 hộ kinh doanh rau quả rộng 1.000 m2. Thiệt hại về tài sản của vụ cháy đến thời điểm này chưa thống kê được con số cụ thể. Nguyên nhân của vụ cháy đang được các cơ quan chức năng phối hợp làm rõ.
   Vụ nổ: vụ nổ xe bồn tại huyện Văn Lâm làm chết 1 người, thiệt hại tài sản không đáng kể. Nguyên nhân vụ nổ được xác định do hàn cắt kim loại dẫn đến nổ.
   Từ ngày 16/7/2018 đến ngày 15/8/2018, trên địa bàn toàn tỉnh không phát hiện và xử lý vụ vi phạm môi trường nào. Tính từ đầu năm đến ngày 15/8/2018, trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 75 vụ vi phạm môi trường, trong đó đã xử lý 59 vụ, xử phạt 2.533 triệu đồng.
   e. An toàn giao thông
   Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 16/7/2018 đến 15/8/2018, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 10 người, làm bị thương 7 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 3 vụ, giảm 20,0%; số người chết tăng 1 người, tăng 11,11%; số người bị thương giảm 3 người, giảm 30,0%. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2018, toàn tỉnh đã xảy ra 109 vụ tai nạn giao thông, làm chết 76 người, làm bị thương 80 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn tăng 1 vụ, tăng 0,93%; số người chết tăng 1 người, tăng 1,33%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 5,88%./.

Nguồn tin: Cục Thống kê Hưng Yên

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Văn bản mới
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây