Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 11 và 11 tháng năm 2017

Thứ tư - 29/11/2017 07:59

    I. Hoạt động kinh tế
    1. Sản xuất nông nghiệp
    a. Trồng trọt

    Đến ngày 20/10/2017, tất cả các địa phương trên địa bàn tỉnh đã kết thúc thu hoạch lúa mùa. Theo đánh giá sơ bộ, năng suất lúa vụ mùa năm nay đạt 53,03 tạ/ha, giảm 4,47 tạ/ha so với cùng kỳ năm 2016. Nguyên nhân làm giảm năng suất lúa mùa là do thời tiết không thuận lợi và sâu bệnh gây hại cho lúa. Ước tính năng suất một số cây trồng hàng năm khác vụ mùa so với cùng kỳ năm 2016 như sau: Ngô 59,86 tạ/ha, tăng 4,77 tạ/ha; lạc 35,66 tạ/ha, tăng 3,98 tạ/ha; đậu tương 23,25 tạ/ha, tăng 1,70 tạ/ha; rau các loại 190,19 tạ/ha, tăng 6,80 tạ/ha...
Theo báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp, đến ngày 21/11, toàn tỉnh gieo trồng được 12.058 ha cây rau màu vụ đông. Trong đó: Cây ngô 3.405 ha; lạc, đậu tương 361 ha; khoai tây 597 ha; bí các loại 1.486 ha; dược liệu 142 ha; hoa cây cảnh 894 ha; rau màu các loại 5.173 ha. Nhiều địa phương đã đẩy nhanh tiến độ trồng rau màu vụ đông với cơ cấu giống phong phú. Thời điểm này, nhiệt độ các tỉnh phía Bắc giảm xuống đáng kể, đây là điều kiện thuận lợi cho cây vụ đông sinh trưởng và phát triển tốt. Dự báo năng suất, sản lượng thu hoạch rau màu vụ đông cao hơn năm trước.
    b. Chăn nuôi
    Theo kết quả điều tra chăn nuôi 01/10, số lượng và sản phẩm chăn nuôi so với cùng kỳ năm 2016 như sau: Đàn trâu 2.708 con, tăng 2,19%; đàn bò 35.122 con, giảm 0,96%; đàn lợn 575.195 con, giảm 8,03%; đàn gia cầm 8.375 nghìn con, tăng 2,79%; sản lượng thịt hơi xuất chuồng cả năm 143.785 tấn, tăng 1,85%, trong đó: sản lượng thịt lợn hơi 111.649 tấn, tăng 0,63%.
2. Sản xuất công nghiệp
    Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười Một tăng 10,43% so với cùng kỳ năm 2016, trong đó: Công nghiệp khai khoáng tăng 2,61%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,16%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,26%. Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng tăng so với cùng kỳ năm 2016 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 14,18%; thức ăn cho gia súc, gia cầm tăng 6,06%; sợi tơ (filament) tổng hợp tăng 10,56%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (quy chuẩn 220x105x60 mm) tăng 11,56%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 10,57%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 10,56%; bao bì bằng chất dẻo các loại tăng 7,82%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 10,63%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 10,62%; sắt thép các loại tăng 10,75%; mạch điện tử tích hợp tăng 7,08%; sợi quang và các bó sợi quang; cáp sợi quang (trừ loại được làm bằng sợi quang riêng rẽ) tăng 10,56%; dây điện đơn dạng cuộn tăng 10,59%; điện thương phẩm tăng 13,51%...
Tính chung mười một tháng năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,42% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng (cát) tăng 2,53%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,83%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,27%. Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2016 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 9,43%; thức ăn cho gia súc, gia cầm tăng 7,59%; sợi tơ (filament) tổng hợp tăng 7,99%; quần áo các loại tăng 8,01%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 10,57%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 3,77%; bao bì bằng chất dẻo các loại tăng 10,56%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 12,07%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 10,93%; sắt thép các loại tăng 7,93%; mạch điện tử tích hợp tăng 7,21%; sợi quang và các bó sợi quang; cáp sợi quang (trừ loại được làm bằng sợi quang riêng rẽ) tăng 6,20%; dây điện đơn dạng cuộn tăng 12,97%; điện thương phẩm tăng 11,83%...
    3. Hoạt động đầu tư
    a. Đầu tư từ ngân sách nhà nước địa phương
    Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước địa phương tháng Mười Một ước đạt 188.558 triệu đồng, tăng 9,42% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh 86.523 triệu đồng, giảm 7,07%; vốn ngân sách cấp huyện 47.643 triệu đồng, tăng 24,68%; vốn ngân sách cấp xã 54.392 triệu đồng, tăng 32,68%. Tính chung mười một tháng năm 2017, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước ước đạt 1.677.071 triệu đồng, tăng 9,64% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt 92,0% kế hoạch. Trong đó, vốn ngân sách cấp tỉnh 833.258 triệu đồng, giảm 1,13%; vốn ngân sách cấp huyện 422.114 triệu đồng, tăng 22,59%; vốn ngân sách cấp xã 421.699 triệu đồng, tăng 23,12%.
    b. Đầu tư nước ngoài
    Tính đến 15/11/2017, toàn tỉnh có 395 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 3.644.860 nghìn USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 35 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 153.849 nghìn USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 137 dự án, vốn đăng ký là 2.382.785 nghìn USD, chiếm 65,37% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Hàn Quốc có 123 dự án, vốn đăng ký 612.745 nghìn USD, chiếm 16,81% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Trung Quốc có 81 dự án, vốn đăng ký 316.444 nghìn USD, chiếm 8,68% tổng số vốn đăng ký.
    4. Thương mại, dịch vụ và giá cả
    a. Bán lẻ hàng hoá và dịch vụ

    Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ trong tháng Mười Một ước đạt 2.406.782 triệu đồng, tăng 13,49% so với tháng cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Kinh tế nhà nước 16.803 triệu đồng, giảm 10,87%; kinh tế tập thể 754 triệu đồng, tăng 71,26%; kinh tế cá thể 1.573.670 triệu đồng, tăng 15,35%; kinh tế tư nhân 770.431 triệu đồng, tăng 10,20%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 45.123 triệu đồng, tăng 10,14%. Theo ngành hoạt động, thương nghiệp 1.950.746 triệu đồng, tăng 14,65% và chiếm tới 81,05% tổng mức bán lẻ; khách sạn, nhà hàng 129.078 triệu đồng, tăng 6,17%; dịch vụ 326.958 triệu đồng, tăng 9,88%.
Tính chung mười một tháng năm 2017, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 25.182.682 triệu đồng, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khu vực kinh tế nhà nước 196.638 triệu đồng, giảm 10,33%; khu vực kinh tế tập thể 7.603 triệu đồng, tăng 87,14%; kinh tế cá thể 16.422.863 triệu đồng, tăng 11,94%; kinh tế tư nhân 8.087.432 triệu đồng, tăng 13,82%; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 468.146 triệu đồng, tăng 6,04%. Theo ngành hoạt động, thương nghiệp 20.313.683 triệu đồng, tăng 12,97%; khách sạn, nhà hàng 1.394.777 triệu đồng, tăng 8,96%; dịch vụ 3.474.223 triệu đồng, tăng 10,36%.
    b. Xuất khẩu hàng hoá, dịch vụ
    Giá trị xuất khẩu tháng Mười Một ước đạt 320.378 nghìn USD, tăng 15,12% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Khu vực kinh tế tư nhân đạt 125.329 nghìn USD, tăng 30,54%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đạt 195.049 nghìn USD, tăng 7,0%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong tháng là: Hàng dệt may đạt 129.090 nghìn USD, tăng 25,37%; hàng giầy, dép các loại 10.349 nghìn USD tăng 32,03%; hàng điện tử 40.005 nghìn USD, giảm 0,01%; sản phẩm bằng plastic 11.376 nghìn USD, tăng 82,75%; hàng thủ công mỹ nghệ 568 nghìn USD, giảm 23,30%; hàng hóa khác 128.991 nghìn USD, tăng 7,03%.
    Tính chung mười một tháng năm 2017, kim ngạch xuất khẩu ước đạt 3.354.087 nghìn USD, tăng 14,89% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt 91,14% kế hoạch. Trong đó: Khu vực kinh tế tư nhân 1.235.331 nghìn USD, tăng 11,38%; khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 2.118.756 nghìn USD, tăng 17,03%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu trong mười một tháng là: Hàng dệt may 1.307.078 nghìn USD, tăng 12,66%; hàng giầy, dép 103.074 nghìn USD, tăng 16,81%; hàng thủ công mỹ nghệ 5.780 nghìn USD, tăng 19,57%; sản phẩm bằng plastic 108.305 nghìn USD, tăng 20,10%; hàng hóa khác 1.428.256 nghìn USD, tăng 18,61%.
    c. Nhập khẩu hàng hoá, dịch vụ
    Giá trị nhập khẩu hàng hóa, máy móc thiết bị tháng Mười Một ước đạt 413.351 nghìn USD, tăng 31,86% so cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Khu vực kinh tế tư nhân 217.613 nghìn USD, tăng 21,25%; khu vực kinh tế có vốn ĐTNN 195.738 nghìn USD, tăng 46,08%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: Vải may mặc 69.372 nghìn USD, tăng 36,57%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy 39.316 nghìn USD, tăng 30,53%; máy móc, thiết bị và dụng cụ, phụ tùng 9.448 nghìn USD, tăng 98,53%; linh kiện điện tử 40.039 nghìn USD, tăng 53,81%; các hàng hóa khác 255.175 nghìn USD, tăng 26,47%.
Tính chung mười một tháng năm 2017, kim ngạch nhập khẩu ước đạt 4.039.784 nghìn USD, tăng 23,72% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó, khu vực kinh tế tư nhân 2.194.864 nghìn USD, tăng 21,80%; khu vực kinh tế có vốn ĐTNN 1.844.920 nghìn USD, tăng 26,09%. Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là: Vải may mặc 691.323 nghìn USD, tăng 34,36%; nguyên phụ liệu dệt, may, da, giầy 382.303 nghìn USD, tăng 19,71%; máy móc, thiết bị và dụng cụ, phụ tùng 81.383 nghìn USD, tăng 28,97%; linh kiện điện tử 374.960 nghìn USD, tăng 21,95%; hàng hóa khác 2.509.814 nghìn USD, tăng 21,79%.
    d. Giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ
    Chỉ số giá tiêu dùng

    Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Một tăng 0,12% so với tháng trước Trong đó: Có 5/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá tăng, bao gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%; may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; dịch vụ giao thông tăng 0,66%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,19%. Có 5/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ ổn định so với tháng trước, bao gồm: Đồ uống và thuốc lá; thuốc và dịch vụ y tế; dịch vụ bưu chính, viễn thông; dịch vụ giáo dục; hàng hoá và dịch vụ khác. Riêng nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng có chỉ số giá giảm 0,10% so với tháng trước.
    So với tháng 12/2016, Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng 5,59%. Trong đó, nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 2,64%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,69%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 0,66%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,37%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 86,58%; dịch vụ giao thông tăng 6,08%; dịch vụ bưu chính, viễn thông giảm 0,01%; giáo dục tăng 3,78%; văn hóa, thể thao và giải trí tăng 1,08%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,96%.
    So với tháng cùng kỳ năm 2016, Chỉ số giá tiêu dùng tháng này tăng 5,09%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,99%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,71%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 1,14%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,19%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 86,58%; dịch vụ giao thông tăng 5,21%; dịch vụ bưu chính, viễn thông giảm 0,01%; giáo dục tăng 3,78%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,96%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,96%.
Bình quân chung mười một tháng năm 2017, Chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,54% so với cùng kỳ năm 2016. Trong đó: Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 4,70%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,57%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 1,81%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 61,20%; dịch vụ giao thông tăng 6,77%; bưu chính, viễn thông giảm 0,38%; dịch vụ giáo dục tăng 7,62%; dịch vụ văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,88%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,97%.
    Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
    Chỉ số giá vàng tháng Mười Một giảm 0,56% so với tháng trước và ở mức giá bình quân 3.547.000 đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,04% so với tháng trước, mức giá bình quân 22.772 đồng/USD.
    5. Hoạt động vận tải và bưu chính, viễn thông
    a. Vận tải hành khách

Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 1.079 nghìn lượt người vận chuyển và 63.056 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,33% về lượt người vận chuyển và tăng 10,28% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2016; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 46.126 triệu đồng, tăng 9,76%. Tính chung mười một tháng năm 2017, vận tải hành khách ước đạt 11.232 nghìn lượt người vận chuyển và 680.138 nghìn lượt người luân chuyển, tăng 8,37% về lượt người vận chuyển và tăng 8,37% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2016; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 491.845 triệu đồng, tăng 8,61%.
    b. Vận tải hàng hóa
Vận tải hàng hoá tháng Mười Một ước đạt 2.340 nghìn tấn vận chuyển và 86.216 nghìn tấn luân chuyển, tăng 8,84% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 8,61% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2016; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 194.730 triệu đồng, tăng 12,48%. Tính chung mười một tháng năm 2017, vận tải hàng hóa ước đạt 23.872 nghìn tấn vận chuyển và 872.852 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 9,20% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 9,04% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2016; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.913.910 triệu đồng, tăng 9,99%.
    c. Bưu chính, viễn thông
Trong tháng Mười Một, ước số thuê bao điện thoại tăng 1.900 thuê bao, trong đó thuê bao cố định giảm 150 thuê bao, thuê bao di động trả sau tăng 2.050 thuê bao mới so với tháng trước. Ước tổng số thuê bao hiện có 125.014 thuê bao, trong đó thuê bao cố định 25.605 thuê bao, thuê bao di động trả sau 99.409 thuê bao. Số thuê bao internet trong tháng ước tăng 1.470 thuê bao, nâng tổng số thuê bao internet hiện có ước đạt 129.031 thuê bao. Mật độ thuê bao internet đạt 9,9 thuê bao/100 người.
    6. Hoạt động tài chính, ngân hàng
    a. Thu ngân sách nhà nước

    Thu nội địa: Thu nội địa tháng Mười Một ước đạt 802.943 triệu đồng, tăng 81,68% so với cùng kỳ năm 2016. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 23.197 triệu đồng, tăng 66,01%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 136.197 triệu đồng, tăng 150,14%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 340.733 triệu đồng, tăng 138,97%; thu lệ phí trước bạ 21.386 triệu đồng, giảm 9,76%; thu thuế thu nhập cá nhân 47.882 triệu đồng, tăng 55,07%; các khoản thu về nhà đất 182.209 triệu đồng, tăng 34,36%.
    Tính chung mười một tháng năm 2017, thu nội địa ước đạt 7.000.000 triệu đồng, tăng 22,34% và đạt 89,17% kế hoạch. Ước một khoản thu nội địa như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 229.500 triệu đồng, tăng 8,82%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.260.000 triệu đồng, tăng 7,74%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 2.833.000 triệu đồng, tăng 20,68%; thu lệ phí trước bạ 231.000 triệu đồng, tăng 2,22%; thuế thu nhập cá nhân 590.000 triệu đồng, tăng 11,08%; thuế bảo vệ môi trường 254.000 triệu đồng, tăng 29,21%; thu phí và lệ phí 57.000 triệu đồng, tăng 77,0%; các khoản thu về nhà đất 1.419.800 triệu đồng, tăng 55,19%; các khoản thu khác 125.700 triệu đồng, tăng 41,80%.
    Thu thuế xuất, nhập khẩu: Thu thuế xuất, nhập khẩu tháng Mười Một ước đạt 310.500 triệu đồng, tăng 41,11% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung mười một tháng năm 2017, thu thuế xuất, nhập khẩu ước đạt 3.099.350 triệu đồng, tăng 27,78% so với cùng kỳ năm 2016 và đạt 110,69% kế hoạch năm.
    b. Chi ngân sách nhà nước
    Tính từ 01/01/2017 đến 21/11/2017, chi ngân sách nhà nước địa phương đạt 6.831.327 triệu đồng, đạt 92,23% kế hoạch năm. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 2.152.146 triệu đồng, đạt 120,67%; chi thường xuyên 4.679.181 triệu đồng, đạt 83,21%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: Chi sự nghiệp kinh tế 454.007 triệu đồng; chi giáo dục, đào tạo 1.675.868 triệu đồng; chi sự nghiệp y tế 415.719 triệu đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 100.357 triệu đồng; chi đảm bảo xã hội 441.587 triệu đồng; chi quản lý hành chính 1.153.849 triệu đồng, chi khác 413.075 triệu đồng.
    c. Hoạt động ngân hàng
    Tính đến 31/10/2017, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng đạt 61.611.187 triệu đồng, tăng 15,84% so với thời điểm 31/12/2016. Trong đó: Nguồn vốn huy động trong dân cư và các tổ chức kinh tế đạt 53.848.999 triệu đồng, tăng 20,99% và chiếm 87,40% tổng nguồn vốn. Tổng dư nợ đối với nền kinh tế đạt 48.228.091 triệu đồng, tăng 10,96% so với thời điểm 31/12/2016. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 32.632.143 triệu đồng, tăng 12,62%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 15.595.948 triệu đồng, tăng 7,64%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 45.896.350 triệu đồng, tăng 10,45%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 2.331.741 triệu đồng, tăng 22,22%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu (nhóm 3,4,5) là 803.663 triệu đồng (chiếm 1,67% tổng dư nợ), giảm 3,09% so với thời điểm 31/12/2016.

    II. Tình hình xã hội – môi trường
    1. Hoạt động văn hóa, thể thao

    Các địa phương trong tỉnh đã thực hiện tốt các hoạt động thông tin cổ động, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ nhiệm vụ chính trị của đất nước, của địa phương.
    Sáng ngày 19/10/2017, tại Trung tâm Hội nghị tỉnh đã diễn ra Lễ khai mạc triển lãm và trao giải Cuộc thi “Ảnh đẹp Du lịch Hưng Yên 2017”. Cuộc thi và triển lãm ảnh giới thiệu tới người xem về văn hóa, lịch sử, thiên nhiên và con người Hưng Yên, qua đó nhằm thu hút khách du lịch, góp phần phát triển ngành du lịch của tỉnh.
    Chào mừng kỷ niệm 35 năm ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982 - 20/11/2017), sáng ngày 10/11/2017, tại Sân cỏ nhân tạo Cung thiếu nhi tỉnh đã diễn ra Lễ khai mạc Giải Bóng đá học sinh Tiểu học tỉnh Hưng Yên năm 2017. Tham dự giải có 10 đội bóng đến từ 10 huyện, thành phố. Các đội bóng được chia làm 3 bảng thi đấu vòng tròn một lượt tính điểm, lấy 3 đội nhất của 3 bảng và một đội nhì cao điểm nhất vào thi đấu bán kết, chung kết.
Từ ngày 01 - 02/11/2017, giải Cờ vua, Cờ tướng các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2017 đã diễn ra tại Nhà tập luyện Thể dục thể thao tỉnh Hưng Yên. Tham dự giải có 50 vận động viên đến từ 5 huyện, thành phố (Văn Lâm, Mỹ Hào, Yên Mỹ, Ân Thi và Tiên Lữ).
    Trong tháng Mười, tỉnh Hưng Yên đã thành lập đoàn tham gia 03 giải thể thao quốc gia, đạt 11 huy chương các loại, trong đó: 01 HCV, 02 HCB, 08 HCĐ.
    2. Hoạt động Y tế
    Trong tháng qua, tổng số bệnh nhân mắc hội chứng cúm 1.235 ca, không có trường hợp nào liên quan đến gia cầm ốm chết, không có trường hợp nào nặng phải điều trị tuyến trên. Bệnh thuỷ đậu 17 ca, tay-chân-miệng 22 ca, quai bị 12 ca. Các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm như: Tả, Thương hàn, Viêm não NBB... không phát hiện trường hợp nào. Một số bệnh truyền nhiễm gây dịch khác xuất hiện lẻ tẻ tại các huyện. Tổng số bệnh nhân mắc sốt xuất huyết trong tháng 10 là 225 ca, luỹ kế đến hết ngày 31/10 là 1.096 ca. Các ca mắc sốt xuất huyết nằm rải rác tại các xã trên địa bàn 10 huyện/thành phố.
Trung tâm Y tế dự phòng tỉnh đã phân phối vắc xin tiêm chủng mở rộng, vật tư theo kế hoạch cho y tế cơ sở triển khai tiêm chủng cho các cháu vào ngày 25-29/10. Trong và sau tiêm chủng không có tai biến xảy ra. Số phụ nữ có thai được khám trên 3 lần trước khi đẻ đạt 98%, tỷ lệ đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 100%.
    Công tác phòng, chống HIV/AIDS: Tính đến ngày 31/10/2017, luỹ kế số người nhiễm HIV/AIDS là 1.622 người, trong đó: Số người nhiễm HIV/AIDS hiện còn sống 819 người; số bệnh nhân tử vong do AIDS 803 người.
    Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Qua kiểm tra an toàn thực phẩm tại một số cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống, nhà ăn, bếp ăn tập thể, cơ sở cung cấp suất ăn công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kết quả: Số cơ sở được kiểm tra 21; số cơ sở đạt 19; số cơ sở vi phạm 2; số cơ sở vi phạm bị xử lý 2; số cơ sở bị phạt tiền 2; số tiền phạt 9,5 triệu đồng. Xử phạt vi phạm hành chính các đơn vị vi phạm pháp luật về an toàn thực phẩm, tổng số tiền xử phạt trong tháng 10/2017 là 50,25 triệu đồng.
    Trong tháng qua, trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm.
    3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
    Từ ngày 16/10/2017 đến ngày 15/11/2017, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên xảy ra 4 vụ cháy nhà dân, không có vụ nổ, không có người bị chết, bị thương do cháy, thiệt hại tài sản do cháy khoảng 2.500 triệu đồng. Tính từ 16/12/2016 đến 15/11/2017, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 22 vụ cháy, làm 1 người chết và 4 người bị thương, thiệt hại tài sản ước tính 21.196 triệu đồng.
    Từ ngày 16/10/2016 đến ngày 15/11/2017, trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 7 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 5 vụ, 2 vụ chuyển giao cho cơ quan khác. Trong đó: 1 vụ vi phạm về khai thác khoáng sản, 2 vụ vi phạm ô nhiễm môi trường, 1 vụ vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, 3 vụ vi phạm khác. Tổng số tiền xử phạt 255 triệu đồng. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 81 vụ vi phạm môi trường, trong đó đã xử lý 61 vụ, xử phạt 2.256 triệu đồng.
    4. An toàn giao thông
    Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 16/10/2017 đến 15/11/2017, toàn tỉnh xảy ra 12 vụ tai nạn giao thông, làm chết 7 người, làm bị thương 9 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 2 vụ, giảm 14,29%; số người chết giảm 7 người, giảm 50,0%; số người bị thương tăng 9 người. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/11/2017, toàn tỉnh đã xảy ra 144 vụ tai nạn giao thông, làm chết 106 người, làm bị thương 102 người. So với cùng kỳ năm 2016, số vụ tai nạn giảm 14 vụ, giảm 8,86%; số người chết tăng 1 người, tăng 0,95%; số người bị thương giảm 3 người, giảm 2,86%./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hưng Yên

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019
Văn bản mới
Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá thế nào về website ?

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây