Cục Thống kê Hưng Yên

http://www.thongkehungyen.gov.vn


Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng ba và quý I năm 2018

Sản xuất vụ Đông: Theo kết quả tổng hợp chính thức, tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2018 của toàn tỉnh là 11.691 ha, giảm 919 ha (giảm 7,29%) so với vụ Đông năm 2017 và đạt 96,70% kế hoạch đề ra. Trong đó: Cây ngô 3.357 ha, giảm 563 ha; cây khoai lang 329 ha, giảm 63 ha; cây đậu tương 310 ha, giảm 219 ha; cây lạc 125 ha, tăng 17 ha; rau các loại 6.295 ha, giảm 114 ha. Như vậy, diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm nay không đạt kế hoạch đề ra, trong đó diện tích cây ngô giảm nhiều nhất, cụ thể: Diện tích ngô của huyện Khoái Châu giảm 171 ha, Kim Động giảm 111 ha, Phù Cừ giảm 176 ha... Diện tích gieo trồng cây đỗ tương cũng giảm mạnh ở huyện Khoái Châu (giảm 133 ha), Kim Động (giảm 35 ha). Diện tích gieo trồng rau, đậu, hoa, cây cảnh giảm chủ yếu ở huyện Phù Cừ (giảm 77 ha), huyện Kim Động (giảm 78 ha).

     1. Sản xuất nông nghiệp, thủy sản
     Trồng trọt

     Sản xuất vụ Đông: Theo kết quả tổng hợp chính thức, tổng diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm 2018 của toàn tỉnh là 11.691 ha, giảm 919 ha (giảm 7,29%) so với vụ Đông năm 2017 và đạt 96,70% kế hoạch đề ra. Trong đó: Cây ngô 3.357 ha, giảm 563 ha; cây khoai lang 329 ha, giảm 63 ha; cây đậu tương 310 ha, giảm 219 ha; cây lạc 125 ha, tăng 17 ha; rau các loại 6.295 ha, giảm 114 ha. Như vậy, diện tích gieo trồng cây vụ Đông năm nay không đạt kế hoạch đề ra, trong đó diện tích cây ngô giảm nhiều nhất, cụ thể: Diện tích ngô của huyện Khoái Châu giảm 171 ha, Kim Động giảm 111 ha, Phù Cừ giảm 176 ha... Diện tích gieo trồng cây đỗ tương cũng giảm mạnh ở huyện Khoái Châu (giảm 133 ha), Kim Động (giảm 35 ha). Diện tích gieo trồng rau, đậu, hoa, cây cảnh giảm chủ yếu ở huyện Phù Cừ (giảm 77 ha), huyện Kim Động (giảm 78 ha).
Nhìn chung, hầu hết các loại cây rau màu vụ Đông năm nay đều cho năng suất khá hơn năm trước. Theo kết quả điều tra về năng suất các loại cây trồng hàng năm, năng suất một số cây trồng như sau: Năng suất ngô đạt 55,95 tạ/ha, tăng 1,56 tạ/ha; khoai lang 142,83 tạ/ha, giảm 2,2 tạ/ha; đậu tương 18,41 tạ/ha, tăng 0,6 tạ/ha; lạc 30,27 tạ/ha, tăng 0,74 tạ/ha; rau các loại 228,18 tạ/ha, tăng 1,24 tạ/ha;...
     Sản xuất vụ Xuân: Hiện nay, toàn tỉnh đã kết thúc gieo cấy lúa xuân với ổng diện tích gần 34 nghìn ha lúa, bảo đảm đúng thời vụ. Trong đó, diện tích gieo thẳng chiếm trên 23% diện tích, còn lại chủ yếu là cấy mạ non (mạ gieo trên nền đất cứng). Bên cạnh việc gieo, cấy lúa xuân, nông dân các địa phương còn quan tâm gieo trồng các cây rau màu vụ Xuân. Theo báo cáo tiến độ sản xuất, đến ngày 20/3/2018, diện tích lúa được chăm sóc lần 2 là 31.132 ha; diện tích gieo trồng cây rau màu vụ Xuân đạt 7.519 ha (trong đó: ngô 1.989 ha, lạc 550 ha, đậu tương 501 ha; dược liệu 360 ha, hoa cây cảnh 600 ha; rau màu các loại 3.519 ha), thu hoạch rau màu vụ Xuân đạt 327 ha.
     Ngay sau Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018, tất cả các địa phương trong tỉnh đã đồng loạt ra quân phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ. Đến ngày 20/3/2018, toàn tỉnh đã trồng được 314.692 cây xanh, trong đó có 281.192 cây ăn quả và 33.500 cây bóng mát.
     Chăn nuôi gia súc, gia cầm
     Công tác quan trọng hàng đầu trong chăn nuôi gia súc, gia cầm thời gian qua là bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm phục vụ nhân dân đón Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018, bổ sung kịp thời số lượng giống chăn nuôi nhằm thay thế đàn gia súc, gia cầm đã giết mổ trong dịp Tết. Các ngành chức năng đã phối hợp chặt chẽ với các địa phương trong công tác kiểm tra, giám sát dịch bệnh và vận chuyển gia súc, gia cầm. Tổ chức triển khai “Tháng hành động vệ sinh tiêu độc khử trùng” trên quy mô toàn tỉnh. Khuyến khích các hộ chăn nuôi thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, nâng cao sức đề kháng của vật nuôi trong thời điểm giao mùa, tiến hành rà soát số lượng gia súc, gia cầm trong diện tiêm phòng vụ xuân.
     3. Sản xuất công nghiệp
     Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Ba tăng 11,83% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Công nghiệp khai thác giảm 27,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,01%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,47%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,90%. Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 4,77%; quần áo các loại tăng 19,32%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 26,08%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 19,29%; bao bì bằng chất dẻo các loại tăng 19,70%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 18,29%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 78,07%; sắt thép các loại tăng 57,27%; thiết bị điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 150,0%... Bên cạnh đó, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm 2017 như: Cát đen giảm 27,99%; nước khoáng không có ga giảm 9,47%; sợi tơ (filament) tổng hợp giảm 25,51%; gạch xây dựng bằng đất sét nung giảm 1,03%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 11,92%.
     Tính chung ba tháng đầu năm 2018, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,30% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Công nghiệp khai khoáng (cát) giảm 18,85%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,19%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,73%. Một số sản phẩm công nghiệp tăng so với cùng kỳ năm 2017 như: Mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 10,07%; quần áo các loại tăng 22,03%; thùng, hộp bằng giấy các loại tăng 20,63%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 10,45%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 9,30%; gạch xây dựng bằng đất sét nung tăng 4,43%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 54,59%; sắt thép các loại tăng 29,50%; dây điện đơn dạng cuộn tăng 17,59%...
     4. Hoạt động đầu tư
     a. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn

     Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn thực hiện trong quý I ước đạt đạt 7.102.996 triệu đồng, tăng 7,93% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Vốn đầu tư thuộc ngân sách nhà nước 891.396 triệu đồng, tăng 6,47%; vốn đầu tư ngoài nhà nước 3.413.332 triệu đồng, tăng 4,49%; vốn đầu tư nước ngoài 2.798.268 triệu đồng, tăng 12,97%.
     Vốn đầu tư ngân sách nhà nước địa phương
     Ước tính vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Ba đạt 139.913 triệu đồng, tăng 11,33% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 70.295 triệu đồng, tăng 1,29%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 39.631 triệu đồng, tăng 29,35%; vốn ngân sách cấp xã 29.987 triệu đồng, tăng 16,99%.
     Tính chung ba tháng đầu năm 2018, thực hiện vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 415.740 triệu đồng, tăng 13,13% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 205.777 triệu đồng, tăng 3,98%; vốn ngân sách cấp huyện 117.935 triệu đồng, tăng 25,65%; vốn ngân sách cấp xã 92.028 triệu đồng, tăng 21,50%.
     c. Đầu tư nước ngoài
     Tính đến 20/3/2018, trên địa bàn tỉnh đã có 406 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 3.998.212 nghìn USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 6 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 21.601 nghìn USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Nhật Bản có 147 dự án, số vốn đăng ký là 2.691.537 nghìn USD, chiếm 67,32% tổng vốn đăng ký; Hàn Quốc có 123 dự án, với số vốn đăng ký là 624.892 nghìn USD, chiếm 15,63% tổng vốn đăng ký; Trung Quốc có 82 dự án, số vốn đăng ký 323.679 nghìn USD, chiếm 8,10% tổng số vốn đăng ký.
     5. Hoạt động tài chính, tiền tệ
     a. Thu ngân sách nhà nước

     Thu ngân sách tháng Ba ước đạt 782.240 triệu đồng, giảm 19,01% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Thu nội địa 714.342 triệu đồng, tăng 9,53%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 67.898 triệu đồng (trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 146.274 triệu đồng, hoàn thuế giá trị gia tăng (-)78.376 triệu đồng). Một số khoản thu nội địa trong tháng dự tính như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 13.046 triệu đồng, giảm 54,72%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 127.942 triệu đồng, tăng 83,22%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 308.937 triệu đồng, tăng 15,03%; thu lệ phí trước bạ 21.078 triệu đồng, tăng 0,15%; thuế thu nhập cá nhân 67.086 triệu đồng, giảm 16,44%; thuế bảo vệ môi trường 25.214 triệu đồng, giảm 1,37%; thu phí và lệ phí 6.599 triệu đồng, giảm 40,55%; các khoản thu về nhà đất 122.060 triệu đồng, giảm 10,87%.
     Tính chung ba tháng đầu năm 2018, thu ngân sách nhà nước ước đạt 2.115.258 triệu đồng, giảm 18,01% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Thu nội địa 2.000.000 triệu đồng, tăng 9,40%; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu 115.258 triệu đồng (trong đó, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 627.498 triệu đồng; hoàn thuế giá trị gia tăng là (-)512.240 triệu đồng). Một số khoản thu nội địa như sau: Thu từ kinh tế quốc doanh 39.000 triệu đồng, giảm 56,87%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 405.000 triệu đồng, tăng 23,83%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 728.000 triệu đồng, giảm 15,40%; thu lệ phí trước bạ 66.500 triệu đồng, tăng 4,60%; thuế thu nhập cá nhân 200.000 triệu đồng, tăng 4,80%; các khoản thu về nhà đất 408.600 triệu đồng, tăng 121,09%.
     b. Chi ngân sách nhà nước
     Tính từ ngày 01/01/2018 đến ngày 19/3/2018, chi ngân sách nhà nước địa phương đạt 1.866.069 triệu đồng, đạt 21,40% kế hoạch năm. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 830.854 triệu đồng, đạt 31,31%; chi thường xuyên 1.035.215 triệu đồng, đạt 17,06%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: Chi sự nghiệp kinh tế 77.274 triệu đồng; chi giáo dục, đào tạo 434.581 triệu đồng; chi sự nghiệp y tế 55.280 triệu đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 15.911 triệu đồng; chi đảm bảo xã hội 91.113 triệu đồng; chi quản lý hành chính 267.009 triệu đồng, chi khác 92.952 triệu đồng.
     c. Hoạt động ngân hàng
     Tính đến 28/2/2018, tổng nguồn vốn của các tổ chức tín dụng đạt 67.825.817 triệu đồng, tăng 5,14% so với thời điểm 31/12/2017. Trong đó: Nguồn vốn huy động trong dân cư và các tổ chức kinh tế đạt 57.944.415 triệu đồng, tăng 3,44% và chiếm 85,43% tổng nguồn vốn. Tổng dư nợ đối với nền kinh tế đạt 50.115.186 triệu đồng, giảm 0,05% so với thời điểm 31/12/2017. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 34.043.661 triệu đồng, giảm 0,83%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 16.071.525 triệu đồng, tăng 1,65%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 47.676.052 triệu đồng, giảm 0,04%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 2.439.134 triệu đồng, giảm 0,13%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu (nhóm 3,4,5) là 683.915 triệu đồng (chiếm 1,36% tổng dư nợ), giảm 5,72% so với thời điểm 31/12/2017.
     6. Thương mại, dịch vụ
     Tổng mức bán lẻ hàng hoá, dịch vụ trong tháng Ba ước đạt 2.462.294 triệu đồng, tăng 10,13% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 1.989.337 triệu đồng, tăng 10,41%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 134.250 triệu đồng, tăng 7,90%; doanh thu du lịch 472 triệu đồng, tăng 12,01%; doanh thu dịch vụ khác 338.235 triệu đồng, tăng 9,35%. Tính chung ba tháng đầu năm 2018, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 7.466.838 triệu đồng, tăng 11,32% so với cùng kỳ năm 2017.
     Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa ba tháng đầu năm ước đạt 6.066.566 triệu đồng, chiếm 81,25% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 12,02% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu bán lẻ lương thực, thức phẩm tăng 12,60%; hàng may mặc tăng 20,18%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 18,74%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 10,78%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,53%; ô tô các loại giảm 69,11%; phương tiện đi lại (trừ ô tô, kể cả phụ tùng) tăng 14,11%; xăng, dầu các loại tăng 11,80%; đá quý, kim loại quý tăng 33,24%...
     Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành ba tháng đầu năm 2018 ước tính đạt 397.266 triệu đồng, chiếm 5,32% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 7,18% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 16.509 triệu đồng, tăng 5,43%; dịch vụ ăn uống 379.277 triệu đồng, tăng 7,22%; dịch vụ lữ hành và hoạt động hỗ trợ du lịch 1.480 triệu đồng, tăng 14,91%.
     Doanh thu dịch vụ khác ba tháng đầu năm 2018 ước đạt 1.003.006 triệu đồng, chiếm 13,43% tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ và tăng 8,94% so với cùng kỳ năm 2017.
     7. Giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ
     Chỉ số giá tiêu dùng

     Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba giảm 0,24% so với tháng trước Trong đó: Có 6/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ có chỉ số giá giảm, bao gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,47%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép giảm 0,77%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,77%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,74%; dịch vụ giao thông giảm 0,64%. Có 3/11 nhóm hàng hóa, dịch vụ ổn định so với tháng trước, là: Bưu chính, viễn thông; thuốc và dịch vụ y tế; dịch vụ giáo dục. Riêng nhóm văn hóa, thể thao, giải trí; hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng so với tháng trước, lần lượt tăng 1,39% và 1,25%.
     So với tháng 12/2017, Chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 0,98%. Trong đó: Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 1,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,99%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép giảm 0,26%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,43%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,33%; dịch vụ giao thông tăng 2,11%; văn hóa, thể thao, giải trí tăng 2,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,52%; bưu chính, viễn thông giảm 0,75%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục ổn định so với tháng 12/2017.
     So với tháng cùng kỳ năm 2017, Chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 2,45%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,66%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,98%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 1,61%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,53%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 15,37%; dịch vụ giao thông tăng 5,05%; dịch vụ bưu chính, viễn thông giảm 0,75%; giáo dục tăng 3,78%; văn hóa, thể thao, giải trí tăng 2,72%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,70%.
     Bình quân chung ba tháng đầu năm 2018, Chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,03% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó: Nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống giảm 1,06%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,62%; hàng may mặc, mũ nón, giầy, dép tăng 2,0%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,37%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,74%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 58,94%; dịch vụ giao thông tăng 5,43%; bưu chính, viễn thông giảm 0,76%; dịch vụ giáo dục tăng 3,78%; dịch vụ văn hóa, thể thao, giải trí tăng 1,63%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,61%.
     Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
     Chỉ số giá vàng tháng Ba tăng 0,24% so với tháng trước và ở mức giá bình quân 3.688.000 đồng/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ tăng 0,22% so với tháng trước, mức giá bình quân 22.784 đồng/USD.
     8. Hoạt động vận tải
     a. Vận tải hành khách

     Vận tải hành khách tháng Ba ước đạt 1.172 nghìn lượt người vận chuyển và 73.197 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 19,36% về lượt người vận chuyển và tăng 20,94% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 53.322 triệu đồng, tăng 11,43%. Tính chung ba tháng đầu năm 2018, vận tải hành khách ước đạt 3.434 nghìn lượt người vận chuyển và 214.087 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 14,13% về lượt người vận chuyển và tăng 14,56% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 156.402 triệu đồng, tăng 12,22%.
     b. Vận tải hàng hóa
     Vận tải hàng hoá tháng Ba ước đạt 2.222 nghìn tấn vận chuyển và 82.028 nghìn tấn luân chuyển, tăng 9,28% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 13,36% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 181.523 triệu đồng, tăng 9,64%. Tính chung ba tháng đầu năm 2018, vận tải hàng hóa ước đạt 6.616 nghìn tấn vận chuyển và 242.093 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 9,26% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 10,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm 2017; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 545.026 triệu đồng, tăng 9,51%.
     9. Một số hoạt động văn hóa, xã hội
     a. Đời sống dân cư và an sinh xã hội

     Nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, các cấp, các ngành và các đơn vị liên quan đã tổ chức các hoạt động thăm hỏi các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng, người cao tuổi và đối tượng xã hội để bảo đảm người dân được đón Tết đầm ấm, vui tươi. Tổng kinh phí chi cho các hoạt động thăm, tặng quà cho các gia đình chính sách, người có công với cách mạng, người cao tuổi, đối tượng xã hội khoảng 47 tỷ đồng. Cụ thể:
     Tặng 35.547 suất quà của Chủ tịch nước với kinh phí 7.300,20 triệu đồng cho các đối tượng chính sách, người có công với cách mạng. Tặng 35.623 suất quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh cho các đối tượng chính sách, gia đình quân nhân làm nhiệm vụ tại quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, Nhà giàn DK1 và thương bệnh binh đang được chăm sóc tại các Trung tâm nuôi dưỡng người có công với mức quà 450.000 đồng/suất (gồm 300.000 đồng tiền mặt và 01 túi quà); tặng 05 Trung tâm điều dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh, mức quà 3.000.000 đồng/đơn vị; thăm và tặng quà 22 gia đình đại diện các gia đình chính sách trên địa bàn tỉnh, mức quà 950.000 đồng/suất (gồm 800.000 đồng tiền mặt và 01 túi quà).      Tổng số tiền là 16.067,15 triệu đồng.
     Tổ chức trao tặng Thiếp chúc thọ của Chủ tịch nước cho người cao tuổi tròn 100 tuổi, Thiếp chúc thọ của Chủ tịch UBND tỉnh cho người cao tuổi tròn 90 tuổi; thăm, chúc thọ, tặng quà 27.250 người cao tuổi ở tuổi 70, 75, 80, 85, 90, từ 91 đến 99 tuổi, tròn 100, trên 100 tuổi. Tổng số tiền 8.946,35 triệu đồng. Hỗ trợ 12.639 hộ nghèo ăn Tết với mức 300.000 đồng/hộ, tổng số tiền 3.791,70 triệu đồng. Hỗ trợ 778 đối tượng nuôi dưỡng tập trung tại các Trung tâm bảo trợ xã hội trong tỉnh, tổng số tiền 556,60 triệu đồng. Ngoài ra, các huyện, thành phố đã trích ngân sách, vận động các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp tặng quà cho các hộ nghèo, hộ có đối tượng bảo trợ xã hội, người cao tuổi.
Toàn tỉnh thăm, tặng quà, trợ giúp (bằng tiền và hiện vật) cho 3.649 lượt trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em nghèo với số tiền 1.381,85 triệu đồng (chưa kể trẻ em được chăm sóc nuôi dưỡng trong các cơ sở bảo trợ xã hội).
     b. Lao động việc làm
     Trong quý I năm 2018, tỉnh Hưng Yên đã tư vấn cho 4,3 nghìn người về việc làm, chính sách lao động, học nghề, xuất khẩu lao động; tổ chức 06 phiên giao dịch việc làm; ban hành quyết định hưởng bảo hiểm thất nghiệp hàng tháng cho trên 1 nghìn lao động. Giải quyết việc làm cho khoảng 4,6 nghìn lao động, trong đó xuất khẩu lao động cho khoảng 800 người sang các thị trường Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Malaysia... Triển khai Chương trình xuất khẩu lao động tại Cộng hòa Séc. Xây dựng Kế hoạch tổ chức Tháng hành động An toàn, vệ sinh lao động năm 2018.
     c. Hoạt động văn hóa, thể thao
     Hoạt động văn hóa: Trong quý I, toàn tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao mừng Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018, mừng 88 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2018), 88 năm ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1930 - 26/3/2018), ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 thiết thực, vui tươi, tiết kiệm.
     Từ ngày 14/3 - 20/3/2018, Tỉnh đoàn Hưng Yên đã phối hợp với Bảo tàng Tuổi trẻ Việt Nam và Bảo tàng tỉnh tổ chức chương trình triển lãm “Sức sống Trường Sa - Sắc màu tình nguyện”. 150 bức ảnh cùng nhiều hiện vật được trưng bày tại Triển lãm với ba nội dung gồm: Chủ đề “Chủ quyền biển đảo”, chủ đề “Sức sống Trường Sa” và chủ đề “Sắc màu tình nguyện”. Đây là hoạt động tuyên truyền về biển đảo theo Chương trình “Trường Sa xanh” của Bộ Tư lệnh Hải quân và Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.
     Hoạt động thể thao: Lễ khai mạc Đại hội thể dục thể thao tỉnh Hưng Yên lần thứ VIII năm 2018 diễn ra vào ngày 25/3 tại Sân vận động tỉnh (Thành phố Hưng Yên). Lễ khai mạc gồm hai phần là phần lễ và phần hội. Phần lễ gồm: Diễu hành biểu dương lực lượng; Lễ rước đuốc và thắp lửa truyền thống; tuyên thệ của các vận động viên và trọng tài; tặng cờ lưu niệm các đoàn tham dự Đại hội. Phần hội diễn ra chương trình nghệ thuật với chủ đề “Khỏe để xây dựng tỉnh Hưng Yên văn hiến, hội nhập và phát triển”.
     Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân tỉnh Hưng Yên năm 2018 được tổ chức đồng loạt ở các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh vào ngày 25/3/2018, phấn đấu 85% số xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh đồng loạt tổ chức ngày chạy Olympic.
     d. Giáo dục và đào tạo
     Đến nay, toàn ngành Giáo dục - Đào tạo đã hoàn thành tốt nhiệm vụ học kỳ I năm học 2017 - 2018 và đang phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ dạy và học của học kỳ II năm học 2017 - 2018. Đến giữa năm học 2017 - 2018, toàn tỉnh Hưng Yên hiện nay có:
     Giáo dục mầm non: Tổng số có 188 trường mầm non với 3.165 nhóm, lớp, huy động 85.356 trẻ mầm non, trong đó: 14.733 cháu nhà trẻ đến trường (đạt tỷ lệ 32,6%) và 75.083 cháu mẫu giáo đến trường (đạt tỷ lệ 95,9%). So với năm học trước tăng 6 trường, tăng 199 nhóm, lớp và tăng 2.732 trẻ mầm non. Có 68 trường đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 36,17%.
Giáo dục tiểu học: Có 170 trường, 3.156 lớp với 102.780 học sinh. So với năm học trước số trường ổn định, tăng 107 lớp, tăng 4.555 học sinh. Số trường đạt chuẩn quốc gia 130 trường, đạt tỷ lệ 76,47%. Tỷ lệ huy động học sinh 6 tuổi vào lớp 1 đạt 100%.
     Giáo dục trung học cơ sở: Có 171 trường, 1.866 lớp với 64.598 học sinh. So với năm học trước số trường ổn định, tăng 64 lớp, tăng 3.495 học sinh. Huy động 100% học sinh hoàn thành chương trình tiểu học vào lớp 6. Số trường đạt chuẩn quốc gia 84 trường, đạt 49,12%.
     Giáo dục trung học phổ thông: Có 36 trường (công lập 26 trường, ngoài công lập 10 trường) và 2 trường liên cấp I, II, III, với tổng số 32.837 học sinh, Tỷ lệ huy động học sinh lớp 9 vào lớp 10 đạt 78,76% (trong đó: công lập 66,9%, ngoài công lập 11,86%). Số trường đạt chuẩn quốc gia 18 trường, đạt tỷ lệ 47,37%.
Giáo dục thường xuyên: Hiện có 02 Trung tâm GDTX cấp tỉnh, 9 trung tâm GDTX cấp huyện, 58 lớp và 2.164 học viên. Ngoài ra có161 trung tâm giáo dục học tập cộng đồng, 4 trường cao đẳng, trung cấp có dạy chương trình bổ túc văn hóa trung học phổ thông, thu hút 5.150 học viên vào học.
     Giáo dục chuyên nghiệp: toàn tỉnh hiện có 6 trường đại học, trong đó 5 trường đại học đã hoạt động và 1 trường đang xây dựng, 8 trường cao đẳng, 3 trường trung cấp chuyên nghiệp và nghề.
     e. Hoạt động Y tế
     Giám sát dịch trong quý I năm 2018, trên địa bàn tỉnh không có dịch xảy ra. Bảo đảm chế độ trực dịch và báo cáo dịch theo đúng quy định. Các bệnh truyền nhiễm gây dịch nguy hiểm như: Tả, Viêm Não NBB, SD/SXH... không phát hiện trường hợp nào. Một số bệnh truyền nhiễm gây dịch khác xuất hiện lẻ tẻ tại các huyện. Phân phối vắc xin tiêm chủng mở rộng, vật tư theo kế hoạch cho y tế cơ sở triển khai tiêm chủng cho các cháu hàng tháng. Trong và sau tiêm chủng không có tai biến xảy ra. Số phụ nữ có thai được khám trên 3 lần trước khi đẻ đạt 98%, tỷ lệ đẻ do cán bộ y tế đỡ đạt 100%.
     Công tác phòng chống HIV/AIDS: Tính đến ngày 28/02/2018, lũy kế số người nhiễm HIV/AIDS là 1.630 người, trong đó: Số người nhiễm HIV/AIDS hiện còn sống 817 người, số bệnh nhân tử vong do AIDS 813 người. Nhân dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất năm 2018, tỉnh Hưng Yên đã tổ chức thăm và tặng quà nhằm hỗ trợ, động viên người nhiễm HIV/AIDS có hoàn cảnh khó khăn vui xuân đón Tết.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra liên ngành về ATTP trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất và mùa lễ hội Xuân 2018. Giám sát mối nguy gây ô nhiễm thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm trong dịp Tết Nguyên đán Mậu Tuất và mùa lễ hội Xuân 2018 trên địa bàn tỉnh. Kiểm tra các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, cửa hàng, siêu thị kinh doanh thực phẩm, những nơi cung cấp thực phẩm với số lượng lớn, chợ đầu mối, cơ sở nhập khẩu thực phẩm…
     f. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
     Từ ngày 16/02/2018 đến ngày 15/3/2018, toàn tỉnh đã phát hiện 1 vụ vi phạm môi trường, đang trong giai đoạn điều tra, nguyên nhân vi phạm là do buôn bán thuốc bảo vệ thực vật ngoài doanh mục cho phép. Trong quý I năm 2018 (tính từ 16/12/2017 đến 15/3/2018), trên địa bàn toàn tỉnh đã phát hiện 35 vụ vi phạm môi trường, trong đó đã xử lý 28 vụ, xử phạt 1.434 triệu đồng.
Quý I năm 2018 (tính từ 16/12/2017 đến 15/3/2018), trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 1 vụ cháy, không có vụ nổ, làm 1 người chết, không có người bị thương, thiệt hại tài sản 0,50 triệu đồng. Riêng trong tháng 3 năm 2018, toàn tỉnh không xảy ra vụ cháy, nổ nào.
     g. Trật tự an toàn giao thông
     Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 16/02/2018 đến 15/3/2018, toàn tỉnh xảy ra 11 vụ tai nạn giao thông (trong đó: 10 vụ tai nạn giao thông đường bộ, 01 vụ tai nạn giao thông đường sắt), làm chết 8 người, làm bị thương 4 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 1 vụ, tăng 10,0%; số người chết tăng 2 người, tăng 33,33%; số người bị thương giảm 1 người, giảm 20,0%. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/3/2018, toàn tỉnh đã xảy ra 37 vụ tai nạn giao thông, làm chết 25 người, làm bị thương 21 người. So với cùng kỳ năm 2017, số vụ tai nạn bằng với cùng kỳ năm 2017, số người chết giảm 8 người, giảm 24,24%; số người bị thương giảm 7 người, giảm 25,0%./.

Tác giả bài viết: Cục Thống kê Hưng Yên

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây